Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định


     Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định là trường THPT có chất lượng giáo dục hàng đầu Nam Định. Đây là ngôi trường hàng năm có nhiều học sinh đạt thành tích cao tại các cuộc thi HSG quốc GiaTrường THPT Chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định là trường THPT có chất lượng giáo dục hàng đầu Nam Định. Đây là ngôi trường hàng năm có nhiều học sinh đạt thành tích cao tại các cuộc thi HSG quốc Gia


Giới thiệu Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định

       Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong Nam Định là trường THPT chuyên hệ công lập của tỉnh NamĐịnh.

      Tiền thân của trường THPT chuyên Lê Hồng Phong là trường Thành Chung Nam Định.    Trường Thành Chung Nam Định ra đời theo nghị định số 2455 do Toàn quyền Đông Dương Pôn- Du-me ( Poul Doumer) ký ngày 24-08-1920. Nghị định đã quy định, năm học đầu nhà trường được mở một lớp, kinh phí 4.500đ, tuyển sinh các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam, Ninh Bình. Báo Trung Bắc Tân Vân, một tờ báo được Pháp bảo trợ, sau kêu xin được cho một số học sinh 15 tuổi vào học. Số báo ra ngày 8-10-1920 đã đưa tin lớp học đầu tiên của trường Thành Chung Nam Định có 45 học trò. Lớp học đặt tại một căn phòng gần Sở Bưu điện bây giờ. Người Thầy Việt Nam từ năm học đầu tiên của trường là thầy Nguyễn Văn Hiếu, hiệu trưởng là viên thanh tra người Pháp Lo-retx.

      Năm học 1921-1922 của trường có 2 lớp (năm thứ nhất và năm thứ hai), học nhờ trường Cửa Bắc. Người Pháp giảng dạy một số môn. Người Việt Nam có thêm thầy Vũ Văn Roãn. Để chuẩn bị mở lớp năm thứ 3, ngày 13-2-1922, giám đốc Nha học chính Bắc Kỳ điện cho Nam Định yêu cầu xây dựng trường riêng. Công sứ Nam Định ủng hộ chủ trương ấy. Thành phố đã lấy 2.250m2 tại phố Gốc Ngái để xây trường (nơi đặt trụ sở UBMTTQ thành phố bây giờ). Thầy Hoàng Ngọc Phách chuyển về trường vào thời gian viết cuốn tiểu thuyết “Tố Tâm”.

      Năm học 1922-1923 với 3 lớp, trường chuyển về phố Gốc Ngái. Thầy Nguyễn Văn Hiếu chuyển về Hà Nội từ năm 1923. Nhà trường có thêm các thầy Nguyễn Văn Bằng, Mai Phương, Nguyễn Gia Tường.

     Ngày 2-9-1923 Giám đốc Nha học chính Bắc Kì quyết định cho Nam Định được mở tiếp năm thứ tư. Do đó, trường mới được xây dựng ở đầu phố Bến Ngự (nơi đặt trường Tiểu học Phạm Hồng Thái bây giờ).

     Năm học 1923-1924 trường có 4 lớp. Cũng như các trường khác, nhà trường được sự trợ giúp của Hội Bảo trợ học đường. Trường chuyển ra địa điểm mới và theo Nghị định số 2419 lúc bấy giờ của toàn quyền Đông Dương ký ngày 23-09-1924, trường đổi tên là Cao đẳng tiểu học Pháp-Việt.

     Năm học 1924-1925 nhà trường tuyển 80 học sinh (vẫn chưa tuyển nữ sinh), nhưng năm học sau chỉ tuyển 40 học sinh vì thiếu lớp học. Năm 1925 Sac-lơ Pa-trix, một nhà văn, được bổ nhiệm làm hiệu trưởng.

     Những năm 1925 – 1928 trường có thêm nhiều thầy dạy. Các thầy người Việt Nam, tính đến năm 1925 có thêm các thầy Trần Văn Hào, Trần Văn Chử, Vũ Tam Thám, Đỗ Hữu Phúc, Ngô Duy Cừ, Phạm Văn Bảng, Đào Văn Định, Vũ Tam Tập, Phan Đình Nghiu, Nguyễn Văn Chính, Phạm Văn Nam, Nguyễn Như Loan, Nguyễn Quang Xương, Vũ Văn Roãn. Đến năm 1927 có thêm các thầy Phan Thế Roanh, Dương Quảng Hàm, cụ kép Phạm Cao Bạt, thân sinh nhà văn Phạm Cao Củng, được tạm tuyển dạy Hán Văn. Học sinh trường Thành Chung Nam Định có truyền thống học giỏi và yêu nước, chịu ảnh hưởng của các phong trào yêu nước và phòng trài cách mạng sớm lan tỏa vào trường từ những năm 1924, 1925. Gần nhất là phong trào công nhân trong thành phố đấu tranh đòi quyền con người. Nhiều sách báo đã xuất hiện trong nhà trường “L’annam” của Phan Văn Trường, “Le Paria”, Người cùng khổ của Nguyễn Ái Quốc, báo Nhân đạo, “L’Humanite” của Đảng Cộng sản Pháp rồi đến “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”…. Thầy trò chuyền nhau đọc. Tháng 11-1925 khi Thực dân Pháp kết án cụ Phan Bội Châu, cụ tú Nguyễn Khắc Doanh, người Nam Trực, xin chết thay cụ Phan. Sự việc này đã được đăng trên các báo, đã gây tác động mạnh đến các học sinh và nhân dân. Toàn quyền Đông Dương Va-ren phải ân xá cho cụ Phan. Cũng năm ấy nhiều vùng miền Bắc bị lụt lớn, học sinh trường Thành Chung đã tổ chức diễn kịch lấy tiền trợ giúp những người bị nạn.

     Ngày 11-3-1926 nhà yêu nước Phan Chu Trinh mất. Phong trào truy điệu và để tang cụ Phan từ Sài Gòn đã lan ra toàn quốc. Nhân dân Nam Định cũng đã đấu tranh đòi được tổ chức lễ truy điệu cụ Phan, nòng cốt là học sinh trường Thành Chung được các nhà nho và công nhân nhà máy ủng hộ. Những người khởi xướng là Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Khắc Lương, Đặng Xuân Khu, Nguyễn Tường Loan, Đặng Châu Tuệ, Nguyễn Văn Hoan…. Học sinh đã bãi khóa và tổ chức thành công lễ truy điệu.

     Sự kiện ấy đã gây tiếng vang lớn trong cả nước. Một số thầy giáo và một số lớn học sinh đã bị kỷ luật. Thầy Vũ Tam Tập phải đổi đi Lạng Sơn, thầy Đào Văn Định đi Sơn Tây sau đó đi Bắc Ninh, thầy Nguyễn Văn Chính đi Bắc Ninh. Theo quyết định số 1654E ngày 30-04-1926 của thống sứ Rôbanh thì 47 học sinh năm thứ 4, 7 học sinh năm thứ 3 trong đó có Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Tường Loan, Đặng Xuân Khu bị đuổi hẳn, còn có 30 học sinh lớp 3A, 28 học sinh lớp 3B bị đuổi tạm thời, và có khoảng 50 học sinh các lớp năm thứ hai và năm thứ nhất bị đuổi tạm thời hoặc bị tước hết học bổng.

     Hiệu trưởng Saclo Patris bị coi là nhu nhược phải đổi về trường Bưởi dạy Văn-sử. Người thay thế là Đờ Phô-tơ-rô Vatxen. Sau lễ truy điệu cụ Phan, một số học sinh tự thôi học đi tìm đường cứu nước. hơn một chục người lần lượt sang Quảng Châu tìm gặp cụ Nguyễn Ái Quốc được cụ giác ngộ, huấn luyện rồi trở thành những đại biểu Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (VN TNCMĐCH). Năm 1927 đồng chí Nguyễn Văn Hoan đã tổ chức chi bộ VN TNCMĐCH đầu tiên ở trường Thành Chung. Những người đầu tiên gia nhập tổ chức là Trần Việt Giần, Ngô Thế Ruông, Đặng Vũ Tiềm, Đặng Vũ Giác, Đặng Tiện Quỳ rồi đến Đỗ Như Lăng. Riêng hai ông Đặng Vũ Tiềm, Đặng Vũ Giác đã vận động rất nhiều thanh niên, trí thức yêu nước làng Hành Thiện (tỉnh Nam Định) tham gia tổ chức. Chi bộ này ghép với chi bộ công nhân do đồng chí Trần Văn Lan, thợ điện nhà máy sợi làm Bí thư.

     Từ năm 1928 đến năm 1932 các học sinh khác của trường Thành Chung như Tống Phúc Chiểu, Đặng Châu Tuệ, Vũ Văn Mẫn, Vũ Công Phụ, Lưu Đình Diêu, Nguyễn Văn Chước, Đỗ Duy Ninh, Nguyễn Thượng Chí, Đặng Hữu Rạng (Đặng Việt Châu), Trần Văn Ngoạn, Vũ Đức Oong, Hoàng Thọ Tiểu, Vũ Ngọc Thuần,…lần lượt được kết nạp Đảng.

     Năm 1928 có một số người tìm đường sang Xiêm bị bắt giữ lại. Ngày 18-12-1928, Ro-bin ký Nghị định số 5438 cấm 6 người không được làm việc nhà nước. Đó là Nguyễn Trịnh Bảo, Vũ Tiến Lữ, Lê Trọng Quy, Nguyễn Tuân, Lương Đức Thiệp, Nguyễn Đình Chung. Có hai học sinh tham gia Việt Nam Quốc Dân Đảng, một tổ chức lúc ấy cũng chống đế quốc Pháp; nhưng khi thấy sự bế tắc của đường lối, các anh đã ly khai và gia nhập Đảng Cộng Sản. Đó là trường hợp các anh Nghiêm Tử Trình (sau này là Ủy viên Ủy ban Hành chính Hà nội những năm 1950) và Nguyễn Tuân. Nguyễn Tuân trở thành nhà văn trong điều kiện như thế.

     Từ năm 1930 đến 1935 bộ máy nhà trường có thay đổi. Hiệu trưởng là Agard, các thầy người Việt Nam là Vũ Văn Roan, Phạm Văn Nam, Trần Văn Hào, Phạm Xuân Độ, Hoàng Đình Ân, Phạm Đình Nghiu, Phan Thế Roanh. Thầy Vũ Tam Tập đi một năm lại trở về, thầy Đào Văn Định đi 5 năm thì trở về. Thầy Ngô Duy Cừ mất năm 1936.

     Những năm 1931-1935 thực dân Pháp khủng bố mạnh. Nhiều học sinh là nòng cốt của phong trào đã thôi học, đi hoạt động cách mạng. Phong trào có lúc lắng xuống, nhưng lại vẫn có lúc bùng lên với những sự kiện đáng ghi nhớ. Một sự việc đáng kể là học sinh trường Thành Chung tham gia cuộc vận động nhân dân thành phố Nam Định không đi xem đoàn xiếc nước Anh biểu diễn, triệt để tẩy chay tên Ham-xton, chủ gánh xiếc đã xúc phạm dân tộc Việt Nam.

     Việc làm ấy có tiếng vang lớn, lan truyền đến Vinh và các nơi khác. Hamston bị tẩy chay, bị xua đuổi khắp nơi, hết đường hành nghề, đành bắn hết hổ báo… đến mức kiệt sức, phải hổ thẹn và cuối cùng đã tự sát! Học sinh trường Thành Chung còn vận động nhân dân không đi đón ” Bảo Đại ngự giá Bắc tuần”. Thời kỳ này còn có thêm một số nhân tài trong học sinh xuất hiện : Trần Hữu Trí, do hoàn cảnh túng thiếu, đã bỏ học, đi dạy tư và viết văn. Anh đã sớm trở thành nhà văn Nam Cao đáng tự hào của quê hương đất nước. Còn phải kể đến các nhạc sĩ Bùi Công Ký, nhà văn Nguyễn Văn Niêm, Trần Lê Văn… Người học sinh xuất sắc Vũ Công Hậu đã đứng đầu cuộc thi học sinh giỏi toán các trường trung học toàn Đông Dương. Trong đội ngũ các thầy giảng dạy thời gian ấy có một số thầy đi làm kiểm học rồi làm đốc học ở một số tỉnh miền Bắc. Đó là thầy Nguyễn Như Loan, Nguyễn Quang Xương, Vũ Văn Roan….

     Từ năm 1936-1937, nhà trường có thêm thầy Đỗ Trọng Cảnh, Đặng Lợi Hàm (sau là Ủy viên Ủy ban Hành chính Thành phố Hải Phòng), Nguyễn Đình Hường, Nguyễn Bá Cường. Hiệu trưởng Agard bị đổi đi nơi khác vì sự việc xúc phạm đến nhân cách học sinh và dân tộc Việt Nam, học sinh phẫn nộ, phản ứng lại mạnh mẽ và rải truyền đơn chống đối. Pierre Maneval về thay. Trong khoảng thời gian ở Pháp, Mặt trận bình dân cầm quyền, thực dân Pháp cho xây dựng một trường lớn có 8 lớp đủ tiện nghi, phương tiện thí nghiệm, thực hành với mức khá hiện đại ở đầu đường Cổng Hậu (gần bến ôtô cũ bây giờ). Di tích còn lại của trường nay là phố Thành Chung.

     Năm học 1937 -1938 trường chuyển về địa điểm mới và bắt đầu nhận học sinh nữ. Mỗi lớp có khoảng 5 nữ sinh. Đồng thời, nhà trường cũng nhận thêm một số học sinh là con em Pháp kiều không có điều kiện học ở truờng Sa-rô ở Hà Nộị. Năm học 1938-1939 Lô-hê-nê về làm hiệu trưởng thay Maneval. Sau đó, Lô-hê-nê bị động viên vào quân đội sang đánh nhau ở Campuchia, Bre-ăng thay được ít lâu thì Ma-nơ-van trở lại trường nhận chức vụ cũ cho tới ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, nắm chính quyền ở Đông Dương, thì bị Nhật bắt, sau được trả tự do, trở về Pháp.

     Trong tình hình cụ thể của những năm 1936-1939, phong trào cách mạng được phục hồi và phát triển, có sự hoạt động của các đồng chí Đào Năng An, Đình Gia Thái, Vũ Quốc Uy, Nguyễn Công Bổng, Phan Đình Đống, Phạm Văn Cương, Hà Văn Lộc, Nguyẽn Bá Huấn, trong phòng trào đoàn thanh niên Dân chủ rồi đến đoàn thanh niên Phản đế. Lúc ấy các đồng chí này đang học năm thứ 3 (1939), nhiều đồng chí bị bắt, bị tù đầy vào tuổi 16, 17.

     Từ năm 1939 đến năm 1940 có các thầy Đỗ Văn Đoan, Thạch Quan Tuấn, Nguyễn Hữu Văn, Đào Đình Khánh, Nguyễn Thụy Hùng, Nguyễn Trọng Thuyết, Nguyễn Quang Hồ, Hà Văn Bính… nối tiếp nhau về trường.

     Năm 1942 trường cao đẳng tiểu học Pháp-Việt đổi tên thành trường Trung học. Thời kỳ này các học sinh Phạm Ngọc Khuê, Phạm Ngọc Lê, Trần Hữu Bái… tham gia hoạt động thành lập Đoàn thanh niên cứu quốc trong mặt trận Việt Minh, rồi tham gia tổng khởi nghĩa.

     Khi chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật ra đời, thầy Phan Thế Roanh được cử tạm quyền Hiệu trưởng. College de Nam Dinh được đổi tên thành trường Trung Học Nguyễn Khuyến. Ít lâu sau thầy Phó Đức Tố, giáo sư trường Bưởi chính thức về làm hiệu trưởng. Giặc Nhật chiếm trường ở đầu phố Cổng Hậu làm doanh trại, trường trở lại địa điểm cũ ở đầu phố Bến Ngự. Cách mạng tháng Tám thành công, quân Tàu Tưởng lại vào chiếm trường thay quân Nhật.

     Năm học 1946-1947 trường đổi tên thành trường trung học chuyên khoa Nguyễn Khuyến có Ban Toán-Lý-Hóa và ban Vạn vật. Lần đầu tiên bậc trung học chuyên khoa (THCK, tức phổ thông trung học-Trung học phổ thông hoặc phổ thông cấp 3 có phân ban) được mở ở thành phố Nam Định. Có một số thầy mới về như: Vũ Bình, Nguyễn Đình Nam, Nguyễn Hữu Ngọc,…

     Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, năm 1947 trường chuyển đến xã Yên Mô, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Chi bộ Đảng cộng sản Đông Dương (CSĐD) trường THCK Nguyễn Khuyến, tức THCK Nguyễn Thượng Hiền sau này, được thành lập ngày 13-1-1948, lúc đầu gồm 4 đồng chí: Đào Nguyên Cát (bí thư), Nguyễn Văn Đắc, Phạm Văn Phối, Vũ Phi Hoàng (đều là Đảng viên về đi học). Một bộ phận của trường Nguyễn Khuyến, chủ yếu là cấp 2, tản cư về Trà Bắc, huyện Xuân Trường Nam Định, do thầy Đào Đình Khánh làm hiệu trưởng.

     Cuối năm 1948 Pháp đánh Phát Diệm (Ninh Bình), trường THCK Nguyễn Khuyến chuyển vào thôn Ngô Xá, xã Đại Đồng, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, đổi tên thành trường THCK Nguyễn Thượng Hiền, có các Ban Toán- Lý – Hóa, Ban Vạn vật là Ban Ngoại ngữ. Năm 1950, khu giáo dục Liên khu 3 quyết định thành lập trường Cao đẳng sư phạm (CĐSP) Liên khu 3, lúc đầu lấy một số học sinh chuyên khoa Nguyễn Thượng Hiền chuyển sang học sư phạm. Có 2 BGH: Thầy Phó Đức Tố làm hiệu trưởng trường THCK Nguyễn Thượng Hiền, thầy Đỗ Trọng Cảnh làm hiệu trưởng trường CĐSP Liên khu. Lúc đầu 2 trường có chung một chi bộ Đảng CSĐD lãnh đạo, sau tách thành 2 chi bộ đều trực thuộc Tỉnh ủy Đảng CSĐD tỉnh Thanh Hóa.

     Lúc này trường THCK Nguyễn Thượng Hiền đã trở thành một cái nôi đào tạo nhân tài, tập hợp nhiều học sinh muốn học lên THCK của đồng bằng Bắc Bộ và miền Bắc Trung Bộ (bao gồm cả nhiều học sinh từ các thành phố tản cư về), trong đó có những đảng viên đã đi công tác nay được Đảng cho về trường tiếp tục học để hoàn thành bậc tú tài.

     Đến những năm 1952- 1953 ở Liên khu 3, đã phát triển thêm một số trường cấp 3 như các trường Hoa Lư, Cù Chính Lan, Nguyễn Quốc Trị, La Văn Cầu, Hồ Tùng Mậu (các thầy Đào Văn Định, Nguyễn Văn Vận… của trường Nguyễn Thượng Hiền được cử sang làm hiệu trưởng), đến khi giải phóng, những trường này hợp nhất lại thành trường cấp 3 Liên khu 3 và trở về đặt trụ sở tại thành phố Nam Định (1954).

     Năm 1959 trường đổi tên thành trường cấp III Lê Hồng Phong.

     Từ năm 1965 đến 1972 do đế quốc Mĩ bắn phá miền Bắc nên trường đã sơ tán về xã Nhân Tiến  và Nhân Thắng huyện Lí Nhân tỉnh Hà Nam. Sau khi hiệp định Pa-ri được kí kết, đầu năm 1973 trường lại trở về địa điểm cũ. Nhà trường đã được củng cố vững vàng trong hòa bình, tiếp tục được tôi luyện và không ngừng phát triển trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Năm 1993 trường có quyết định của UBND tỉnh Nam Định đổi tên trường cấp III Lê Hồng Phong thành trường THPT chuyên Lê Hồng Phong. Từ đó đến nay, trường luôn là một trong những trường chuyên nổi tiếng của cả nước với bề dày thành tích trong học tập, giảng dạy.


Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định – Danh sách hiệu trưởng

  • Thầy Ngô Vỹ Nông – Thạc sỹ

Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định – Danh sách đề thi tuyển sinh lớp 10

Niên khóa Môn Môn Môn Môn Môn Môn Môn Môn Môn
2017-2018 Toán Hóa Sinh Sử Địa Văn Tin Tiếng Anh
2016-2017 Toán Hóa Sinh Sử Địa Văn Tin Tiếng Anh
2015-2016 Toán Hóa Sinh Sử Địa Văn Tin Tiếng Anh
2014-2015 Toán Hóa Sinh Sử Địa Văn Tin Tiếng Anh
2013-2014 Toán Hóa Sinh Sử Địa Văn Tin Tiếng Anh
2012-2013 Toán Hóa Sinh Sử Địa Văn Tin Tiếng Anh

Liên hệ Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định

Địa chỉ : 76 Vỵ Xuyên, TP Nam Định, Tỉnh Nam Định, Việt Nam.

Điện thoại (+84-350) 3640297

Email : [email protected]

Website : http://thpt-lehongphong-nd.edu.vn


Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định – Danh sách HSG Quốc Gia

Năm 2017


STT Họ Tên Ngày Sinh SBD Nơi Sinh Giới tính Điểm thi Giải Môn Lớp
1 Bùi Tuấn Anh 1/9/1999 39.01.01 Nam Định Nam 18.50 Ba Toán 12
2 Trần Hoàng Chuẩn 3/8/1999 39.01.02 Nam Định Nam 19.00 Ba Toán 12
3 Trần Thị Hà 2/28/1999 39.01.03 Nam Định Nữ 27.00 Nhì Toán 12
4 Đinh Văn Hiếu 6/18/1999 39.01.04 Hà Nam Nam 22.00 Ba Toán 12
5 Nguyễn Hoàng Huy 7/1/2000 39.01.05 Nam Định Nam 23.50 Nhì Toán 11
6 Phạm Quang Huy 8/29/1999 39.01.06 Nam Định Nam 19.50 Ba Toán 12
7 Đoàn Ngọc Khánh 5/4/2000 39.01.07 Nam Định Nam 20.00 Ba Toán 11
8 Đoàn Thị Nhài 13/10/1999 39.01.08 Nam Định Nữ 20.00 Ba Toán 12
9 Nguyễn Kiên Anh 3/24/2000 39.02.01 Nam Định Nam 22.75 K.Khích Vật lí 11
10 Chu Đình Dương 8/27/1999 39.02.02 Nam Định Nam 26.10 Ba Vật lí 12
11 Lê Đắc Dưỡng 1/1/1999 39.02.03 Nam Định Nam 20.00 K.Khích Vật lí 12
12 Phạm Xuân Đạt 27/11/1999 39.02.04 Nam Định Nam 27.90 Ba Vật lí 12
13 Nguyễn Ngọc Thế 1/10/1999 39.02.06 Hà Nam Nam 23.65 K.Khích Vật lí 12
14 Trần Thị Trang 5/6/1999 39.02.07 Nam Định Nữ 30.20 Nhì Vật lí 12
15 Hồ Anh Tùng 1/21/2000 39.02.09 Nam Định Nam 24.05 K.Khích Vật lí 11
16 Hoàng Minh Tùng 9/14/2000 39.02.08 Nam Định Nam 20.55 K.Khích Vật lí 11
17 Trần Xuân Vũ 9/13/1999 39.02.10 Nam Định Nam 20.25 K.Khích Vật lí 12
18 Trần Vân Anh 11/7/2000 39.03.02 Nam Định Nữ 20.30 K.Khích Hoá học 11
19 Ngô Thu Hiền 4/14/1999 39.03.03 Nam Định Nữ 25.60 Nhì Hoá học 12
20 Lê Đăng Huy 8/5/1999 39.03.04 Nam Định Nam 22.60 Ba Hoá học 12
21 Nguyễn Thị Linh 20/11/1999 39.03.05 Nam Định Nữ 21.30 K.Khích Hoá học 12
22 Đàm Đức Lương 9/14/1999 39.03.06 Nam Định Nam 23.95 Ba Hoá học 12
23 Vũ Trung Nam 2/5/1999 39.03.07 Nam Định Nam 28.80 Nhì Hoá học 12
24 Lê Huỳnh Tiến 4/10/2000 39.03.08 Hungary Nam 22.55 Ba Hoá học 11
25 Hoàng Thanh Tùng 8/29/2000 39.03.09 Nam Định Nam 26.05 Nhì Hoá học 11
26 Lê Thu Uyên 3/9/1999 39.03.10 Nam Định Nữ 20.65 K.Khích Hoá học 12
27 Nguyễn Thế Anh 4/6/1999 39.04.01 Nam Định Nam 27.90 Ba Sinh học 12
28 Trần Diệu ánh 1/18/1999 39.04.02 Nam Định Nữ 22.80 K.Khích Sinh học 12
29 Trần Thị Quỳnh Trang 11/8/1999 39.04.07 Nam Định Nữ 22.95 K.Khích Sinh học 12
30 Trần Thanh Tùng 1/29/1999 39.04.08 Nam Định Nam 25.60 Ba Sinh học 12
31 Đỗ Thu Uyên 7/21/1999 39.04.09 Nam Định Nữ 23.95 K.Khích Sinh học 12
32 Đinh Việt Anh 6/5/2000 39.05.01 Nam Định Nam 17.45 Ba Tin học 11
33 Đặng Thành Công 8/22/1999 39.05.02 Nam Định Nam 21.90 Nhì Tin học 12
34 Lê Tuấn Dũng 7/29/1999 39.05.03 Nam Định Nam 27.05 Nhì Tin học 12
35 Trần Văn Đạo 1/17/1999 39.05.04 Nam Định Nam 21.05 Nhì Tin học 12
36 Đỗ Quang Điện 5/1/2000 39.05.05 Nam Định Nam 19.90 Ba Tin học 11
37 Phạm Tuấn Nghĩa 22/11/2000 39.05.06 Nam Định Nam 33.20 Nhất Tin học 11
38 Trần Thị Uyên 2/3/1999 39.05.07 Nam Định Nữ 23.20 Nhì Tin học 12
39 Hoàng Quốc Việt 1/14/2000 39.05.08 Nam Định Nam 12.00 K.Khích Tin học 11
40 Hoàng Hà Anh 8/11/1999 39.06.01 Nam Định Nữ 15.00 Nhì Ngữ văn 12
41 Trần Thu Giang 1/18/1999 39.06.02 Hà Nam Nữ 16.00 Nhì Ngữ văn 12
42 Lã Việt Huy 8/8/1999 39.06.03 Nam Định Nam 16.00 Nhì Ngữ văn 12
43 Vũ Thị Thu Hương 8/7/1999 39.06.04 Nam Định Nữ 15.00 Nhì Ngữ văn 12
44 Bùi Thị Kim Ngân 29/10/2000 39.06.05 Nam Định Nữ 13.00 K.Khích Ngữ văn 11
45 Hoàng Thị Thảo 4/22/1999 39.06.06 Nam Định Nữ 14.50 Ba Ngữ văn 12
46 Trịnh Thị Thu 1/2/2000 39.06.07 Nam Định Nữ 13.00 K.Khích Ngữ văn 11
47 Vũ Thị Hải Yến 29/10/1999 39.06.08 Nam Định Nữ 13.50 Ba Ngữ văn 12
48 Trần Phương Anh 7/22/2000 39.07.01 Nam Định Nữ 14.00 Ba Lịch sử 11
49 Trần Văn Diện 10/9/1999 39.07.02 Nam Định Nam 14.25 Ba Lịch sử 12
50 Nguyễn Đức Thái 9/20/1999 39.07.08 Nam Định Nam 12.75 K.Khích Lịch sử 12
51 Trần Trung Thành 8/3/1998 39.07.07 Nam Định Nam 12.75 K.Khích Lịch sử 12
52 Trần Minh Tiến 8/31/1999 39.07.09 Nam Định Nam 14.50 Ba Lịch sử 12
53 Đinh Thị Yến 1/1/1999 39.07.10 Nam Định Nữ 13.75 K.Khích Lịch sử 12
54 Trần Thị Ngọc Anh 12/9/1999 39.08.01 Nam Định Nữ 16.50 Nhì Địa lí 12
55 Trần Thị Thu Hiền 10/10/2000 39.08.02 Nam Định Nữ 15.00 Ba Địa lí 11
56 Đặng Huy Hùng 4/3/1999 39.08.03 Nam Định Nam 14.00 K.Khích Địa lí 12
57 Phạm Thị Nhung 7/16/1999 39.08.04 Nam Định Nữ 15.00 Ba Địa lí 12
58 Bùi Thị Thuỷ 5/8/1999 39.08.05 Nam Định Nữ 15.00 Ba Địa lí 12
59 Vũ Thị Thu Thuỷ 1/1/1999 39.08.06 Nam Định Nữ 17.00 Nhì Địa lí 12
60 Nguyễn Thị Thu Trang 5/14/2000 39.08.07 Nam Định Nữ 15.00 Ba Địa lí 11
61 Lương Thục Trinh 8/30/1999 39.08.08 Hà Nam Nữ 13.25 K.Khích Địa lí 12
62 Trần Thị Hồng Vân 5/14/1999 39.08.09 Nam Định Nữ 13.00 K.Khích Địa lí 12
63 Nguyễn Nhật Vy 10/6/1999 39.08.10 Nam Định Nữ 16.00 Nhì Địa lí 12
64 Nguyễn Thảo Anh 5/14/2000 39.09.01 Nam Định Nữ 15.30 Ba Tiếng Anh 11
65 Nguyễn Mai Linh 8/1/1999 39.09.03 Nam Định Nữ 13.55 K.Khích Tiếng Anh 12
66 Nguyễn Diệu Loan 2/7/1999 39.09.04 Nam Định Nữ 14.95 Ba Tiếng Anh 12
67 Vũ Khánh Ngọc 7/11/1999 39.09.05 Nam Định Nữ 14.85 Ba Tiếng Anh 12
68 Khúc Thái Sơn 21/10/1999 39.09.06 Nam Định Nam 13.95 K.Khích Tiếng Anh 12
69 Trần Sơn Tùng 1/24/1999 39.09.08 Nam Định Nam 14.75 Ba Tiếng Anh 12
70 Phạm Hoàng Anh 7/29/1999 39.10.02 Nam Định Nam 16.25 Ba Tiếng Nga 12
71 Bùi Vương Anh 6/27/2000 39.10.01 Nam Định Nam 15.50 K.Khích Tiếng Nga 11
72 Nguyễn Thị Thuỳ Dương 5/6/1999 39.10.04 Nam Định Nữ 15.50 K.Khích Tiếng Nga 12
73 Nguyễn Minh Phương 18/12/2000 39.10.06 Nam Định Nữ 17.05 Ba Tiếng Nga 11
74 Trần Thanh Huyền 27/10/1999 39.11.01 Nam Định Nữ 15.15 K.Khích Tiếng Pháp 12
75 Trần Đức Nhật 9/10/1999 39.11.02 Nam Định Nam 15.80 Nhì Tiếng Pháp 12
76 Nguyễn Thị Thu Phương 12/7/1999 39.11.04 Nam Định Nữ 16.00 Nhì Tiếng Pháp 12
77 Phan Thị Thu Thảo 11/1/2000 39.11.05 Nam Định Nữ 14.95 K.Khích Tiếng Pháp 11


Quay lại danh sách

Tham Khảo các trường THPT Chuyên khác

STT Trường Đơn vị Chi tiết
1 Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Bà Rịa – Vũng Tàu xem
2 Trường THPT Chuyên Bắc Giang Bắc giang xem
3 Trường THPT Chuyên Bạc Liêu Bạc Liêu xem
4 Trường THPT Chuyên Bắc Ninh Bắc Ninh xem
5 Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Bình Định xem
6 Trường THPT Chuyên Hùng Vương Bình Dương xem
7 Trường THPT Chuyên Bình Long Bình Phước xem
8 Trường THPT Chuyên Quang Trung Bình Phước xem
9 Trường THPT Chuyên Trần Hưng Đạo Bình Thuận xem
10 Trường THPT Chuyên Phan Ngọc Hiển Cà Mau xem
11 Trường THPT Chuyên Lý Tự Trọng Cần Thơ xem
12 Trường THPT Chuyên Cao Bằng Cao Bằng xem
13 Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Đà Nẵng xem
14 Trường THPT Chuyên KHTN – ĐHKHTN Đại Học Quốc Gia Hà Nội xem
15 Trường THPT Chuyên Ngoại ngữ – Đại học Ngoại ngữ Đại Học Quốc Gia Hà Nội xem
16 Trường THPT Phổ thông Năng khiếu Đại Học Quốc Gia HCM xem
17 Trường THPT Chuyên Đại Học Sư Phạm Hà Nội xem
18 Trường THPT năng khiếu Đại học Tân Tạo xem
19 Trường THPT Chuyên Nguyễn Du Đắk Lắk xem
20 Trường THPT Chuyên Nguyễn Chí Thanh Đắk Nông xem
21 Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Điện Biên xem
22 Trường THPT Chuyên Nguyễn Đình Chiểu Đồng Tháp xem
23 Trường THPT Chuyên Nguyễn Quang Diệu Đồng Tháp xem
24 Trường THPT Chuyên Hùng Vương Gia Lai xem
25 Trường THPT Chuyên Hà Giang Hà Giang xem
26 Trường THPT Chuyên Biên Hòa Hà Nam xem
27 Trường THPT Chu Văn An Hà Nội xem
28 Trường THPT Chuyên Hà Nội – Amsterdam Hà Nội xem
29 Trường THPT Chuyên Nguyễn Huệ Hà Nội xem
30 Trường THPT Sơn Tây Hà Nội xem
31 Trường THPT Chuyên Hà Tĩnh Hà Tĩnh xem
32 Trường THPT Chuyên Nguyễn Trãi Hải Dương xem
33 Trường THPT Chuyên Trần Phú Hải Phòng xem
34 Trường THPT Chuyên Vị Thanh Hậu Giang xem
35 Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong Hồ Chí Minh xem
36 Trường THPT Chuyên Trần Đại Nghĩa Hồ Chí Minh xem
37 Trường THPT Chuyên Hoàng Văn Thụ Hòa Bình xem
38 Trường THPT Chuyên Hưng Yên Hưng Yên xem
39 Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Khánh Hòa xem
40 Trường THPT Chuyên Huỳnh Mẫn Đạt Kiên Giang xem
41 Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành Kon Tum xem
42 Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Lai Châu xem
43 Trường THPT Chuyên Bảo Lộc Lâm Đồng xem
44 Trường THPT Chuyên Thăng Long Lâm Đồng xem
45 Trường THPT Chuyên Chu Văn An Lạng Sơn xem
46 Trường THPT Chuyên Lào Cai Lào Cai xem
47 Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong Nam Định xem
48 Trường THPT Chuyên Phan Bội Châu Nghệ An xem
49 Trường THPT Chuyên Lương Văn Tụy Ninh Bình xem
50 Trường THPT Chuyên Hùng Vương Phú Thọ xem
51 Trường THPT Chuyên Lương Văn Chánh Phú Yên xem
52 Trường THPT Chuyên Võ Nguyên Giáp Quảng Bình xem
53 Trường THPT Chuyên Lê Thánh Tông Quảng Nam xem
54 Trường THPT Chuyên Hạ Long Quảng Ninh xem
55 Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn Quảng Trị xem
56 Trường THPT Chuyên Nguyễn Thị Minh Khai Sóc Trăng xem
57 Trường THPT Chuyên Sơn La Sơn La xem
58 Trường THPT Chuyên Hoàng Lê Kha Tây Ninh xem
59 Trường THPT Chuyên Thái Bình Thái Bình xem
60 Trường THPT Chuyên Quốc Học Huế Thừa Thiên Huế xem
61 Trường THPT Chuyên Tiền Giang Tiền Giang xem
62 Trường THPT Chuyên Nguyễn Thiện Trà Vinh xem
63 Trường THPT Chuyên Tuyên Quang Tuyên Quang xem
64 Trường THPT Chuyên Nguyễn Bỉnh Khiêm Vĩnh Long xem
65 Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc Vĩnh Phúc xem
66 Trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành Yên Bái xem

Blog được lập ra với mục đích để chia sẻ đề thi tới toàn bộ học sinh, sinh viên ở Việt Nam :

+ Trong quá trình đăng bài không thể tránh được những sai sót, Nếu các bạn phát hiện ra sai sót có thể comment ở bên dưới.

+ Nếu các bạn có đề thi, đáp án hay muốn chia sẻ tới tất cả mọi người có thể gửi thông tin vào [email protected] để chúng tôi có thể đăng tải lại.

Trân thành cảm ơn


Mít&Béo


Phản hồi

Phản hồi